Nam Mô Bổn Sư Thích Ca

IV. Ý NGHĨA CỦA CÁC DANH HIỆU PHẬT, BỒ-TÁT<2>

Như phần trên, người viết đã đề cập, Phật giáo khôngphải là một Tôn giáo như nhiều người hiểu một cách thông thường mà “Phậtgiáo là một nền giáo dục thực tiễn, như trường học giáo dục con người, thiếtthực trong đời sống hằng ngày”. Do đó những danh hiệu Phật, Bồ-tát đềulà những danh hiệu, danh từ biểu pháp tượng trưng cho môn học nhằm giáo dục,giáo học răn dạy chúng ta trên bước đường tu nhân học Phật. Ngay cả những vậtphẩm dùng để cúng kiếng (như bông, trái cây, đèn, nước, nhang, áo dài lam…)cũng vậy. Khi đối người, đối sự, đối vật, chúng ta phải biết áp dụng những danhhiệu Phật, Bồ-tát, những vật được thờ cúng vào đời sống hằng ngày. Chính vìthế, chúng ta là Phật tử cần phải hiểu biết hết ý nghĩa hết các danh hiệu củacác Ngài và những vật được thờ cúng. Chúng ta đang sống trong thời kỳ hóa độcủa đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Do đó chúng ta cần tìm hiểu sơ lược ýnghĩa danh hiệu của Ngài.

Bạn đang xem: Nam mô bổn sư thích ca

 IV.1. Danh hiệu thứnhất: NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT

 Giải thích danh hiệu:

 Nam-môcó 6 ý nghĩa sau: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng. Trongđó từ kính lễ, quy y và qui mạng là ba từ thường dùng nhất.

 Bổnsư: Bổn nghĩa là căn nguyên, đầutiên, cội nguồn. Sư nghĩa là thầy dạyhọc.

 Thích-ca(Sakya): là tiếng Phạn, Tàu dịch là Năng Nhơn: Năng là năng lực, Nhơn là từ bi,nghĩa là nhân từ.

Mâu-ni (Muni) nghĩa là Tịch Mặc: Tịch là yên lặng, không bịkhổ vui làm động tâm. Mặc là lặng lẽ, không bị phiền não khuấy rối, độ mình độngười, công đức đầy đủ. Tịch Mặc được hiểu là thanh tịnh.

Phật: dịch là Giác hoặc Trí. Nói cho đúng tiếng Phạn làBuddha (Phật-đà). Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giác Giả (bậc đã giác ngộ, sángsuốt hoàn toàn). Giác có ba bậc:

- Tự giác: Nghĩa là tự giác ngộ hoàn toàn do phước huệvà công phu tu hành, khác với phàm phu là những người còn mê muội, bị luân hồitrong cõi trần lao, khổ ải.

- Giác tha: Nghĩa là mình đã giác ngộ, lại đem phươngpháp giác ngộ ấy dạy cho những người tu hành được giác ngộ như mình. Người tutheo Tiểu Thừa không thể có được giác tha, vì chỉ lo giải thoát cho mình. Chỉngười tu theo Ðại Thừa mới có được giác tha, nghĩa là giác ngộ cho hết thảychúng sanh đang chìm đắm.

- Giác hạnh viên mãn: Nghĩa là giác ngộ hoàn toàn đầyđủ cho mình và cho người. Những bậc Bồ-tát, tuy đã giác ngộ cho mình và chongười, nhưng công hạnh chưa viên mãn, nên chưa gọi được là “Giác hạnh viên mãn”.Chỉ có Phật mới được gọi là Giác Hạnh Viên Mãn.

Chữ Phật là một danh từ chung để gọi những bậc đã tựgiác, giác tha và giác hạnh viên mãn, chứ không phải là một danh từ riêng đểgọi một người nào nhất định. Ai tu hành được chứng quả như đã nói trên đều đượcgọi là Phật cả.

Do đây mà biết nhân từ cùng thanh tịnhlà đức năng vốn đầy đủ trong tự tánh của chúng ta. Danh từ này, nhà Nho gọi là“nhân chi sơ tánh bổn thiện”, nhàPhật gọi là “Phật tánh”. Khi bướcchân đến chùa đối diện hình tượng Ngài, niệm danh hiệu Ngài, lễ lạy Ngài, chúngta phải tự hỏi lại bản thân của mình xem đã làm được một phần nhỏ hạnh nguyệnnào giống với Ngài chưa? Khi đối người, đối sự, đối vật, chúng ta có dùng lòngtừ bi không? Đối với bản thân mình có thanh tịnh không? Có bị tám thứ gió(khen, chê, lợi, suy, vui, khổ, vinh, nhục) làm tâm bất an xao động không? Nếukhông, tức là thanh tịnh đối với bản thân của mình.

Dân gian Việt Nam có câu: “Con nhà tông không giống lôngcũng giống cánh”. Phật tử được hiểu là con Phật. Ngày nay chúng ta đangbước trên con đường đạo, con đường mà khi xưa đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni đã điqua, đạt ngôi vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Phật quả). Vậy trước khithành Phật, Ngài tu những công hạnh, hạnh nguyện gì? Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Đề-bà Đạt-đa thứ 12 ghi: “…Trí-TíchBồ-Tát nói rằng: Tôi thấy đức Thích-Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm nhữnghạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ-đề chưa từng có lúc thôidứt. Ta xem trong cõi tam-thiên đại-thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạtcải nào mà không phải là chỗ của Bồ-Tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh.Vậy sau mới được thành đạo Bồ-đề”. Công đức và hạnh nguyện của Ngài, thì vôlượng kiếp chúng ta cũng không thể nào nói cho hết được. Ở đây, người viết xindẫn ra hai mẫu chuyện tiêu biểu cho đức tính Từ bi và Thanh tịnh như ý nghĩadanh hiệu của Ngài, để chúng ta học tập theo tấm gương của Ngài.

Hạnh từ bi của đức Phật:

LÓC THỊT THẾ CHIM BỒ CÂU<3>

Vào đời quá khứ, có vua Thi-tỳ cai trị một nước rộnglớn, giàu vui, đông đúc. Nhà vua rất thương dân, dân cũng rất mến nhà vua.

Một hôm, nhà vua soi gương thấy trên đầu đã có vài basợi tóc bạc. Vua là người có trí, ý thức được vô thường sanh diệt, nên nhườngngôi cho con rồi lên núi tu thiền cầu giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh.

Đế-thích có thiên nhãn nên biết nhà vua tu thiền định,không biết ý của vua muốn cầu làm Phạm-thiên hay Đế-thích không…, liền bàn vớimột thiên quan. Thiên quan nói: “Nếu Đế-thích muốn biết thì phải thử”.

Thế rồi Đế-thích hóa làm chim ó. Thiên quan hóa làmchim bồ câu. Chim ó rượt chim bồ câu, chim bồ câu chạy vào lòng nhà vua cầu xincứu mạng. Chim ó đến đòi chim bồ câu, vua Thi-tỳ không trả.

Chim ó nói: “Chim bồ câu là thức ăn của tôi. Ngài cứunó nhưng để tôi chết đói thì đâu có gọi là từ bi”.

Xem thêm: Mua Bán Xe Honda Zoomer X Bán Ở Đâu, Giá Xe Máy Honda Zoomer X Kèm 4 Màu Sắc ”Đẹp Mắt”

Nhà vua nói: “Ta sẽ lóc thịt của ta tế cho nhà ngươi”.

Chim Ó nói: “Muốn cho công bình thì thịt Ngài phải cânbằng thịt bồ câu”. Vua đồng ý.

Khi cân, để chim bồ câu một bên, thịt nhà vua một bên,nhưng lạ lùng thay, bao nhiêu thịt vẫn nhẹ hơn chim bồ câu. Cuối cùng, nhà vuađịnh bước lên cân nhưng yếu sức, té xỉu.

Lúc đó, trời Đế-thích và thiên quan hiện nguyên hìnhvà nói với nhà vua: “Ngài tu từ bi khổ hạnh như vậy, mục đích muốn cầu quả vịgì? Cầu làm Phạm Thiên, Đế-thích, hay Chuyển luân thánh vương?”. Nhà vua trảlời: “Tôi tu hành, không cầu làm Phạm Thiên, Đế-thích hay Chuyển luân vương, màmục đích cầu thành Phật để hóa độ chúng sanh”.

 

 

*
*

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật - ảnh minh họa

 

Đế-thích nói: “Thân Ngài hiện nay đau đớn, Ngài có hốihận không?”

Nhà vua nói: “Tôi không hối hận”.

Đế-thích nói: “Làm sao biết Ngài không hối hận?”

Vua Thi-tỳ lập thệ rằng: “Xin mười phương chư Phậtchứng minh. Nếu trong tâm tôi không có hối hận, thì xin cho thân thể tôi bìnhphục lại như cũ”. Lạ lùng thay, vua vừa phát nguyện xong thì thân bình phục lạinhư cũ.

Thiên Đế-thích ca ngợi tán dươngvà nói: “Ngài chắc chắn sẽ thành Phật,” rồi lễ bái và biến mất.

Phật kết luận: Vua Thi-tỳ là tiền thân của ta. Vì xưakia do lòng từ bi bố thí cả thân mạng chochim ó nên mau thành Phật, chứng quả như hôm nay”.

Hạnh thanh tịnh của đức Phật:

 HẠNH NHẪN NHỤC<4>

 

Có một câu chuyện rất nổi tiếng từ tạng kinh Phật giáominh chứng cho ta thấy sự khéo léo của Đức Phật khi đối phó với sân hận. Ngàynọ, một người Bà-la-môn, thuộc dòng quý tộc và thế lực, đến gặp đức Phật. VịBà-la-môn này tánh khí nóng nảy, thường cãi cọ với mọi người. Ngay chính nhưkhi người khác bị hại mà không tỏ vẻ giận dữ, ông cũng không bằng lòng. Vì thế,khi ông nghe rằng đức Phật chẳng bao giờ nổi giận, ông quyết định đến thử Ngài.

Người Bà-la-môn đi đến gặp đức Phật và tuôn ra nhữngtràng chửi rủa, mắng nhiếc. Đức Phật lắng nghe một cách bình tĩnh trong imlặng. Vị Bà-la-môn chửi rủa từ sáng cho đến chiều, cuối cùng ngưng chửi và chờđợi phản ứng của đức Phật. Lúc đó, đức Phật bình tĩnh hỏi ông: “Ông có gia đìnhhay bạn bè không?”.

“Dĩ nhiên rồi”, Bà-la-môn trả lời. “Tại sao?”.

- “Ông có thăm viếng họ thường xuyên không?”, Đức Phậthỏi.

- “Có,” người Bà-la-môn trả lời cộc cằn.

- “Khi đi thăm họ, ông có mang quà theo không?”.

- “Dĩ nhiên là tôi có!”, vị Bà-la-môn gầm lên.

- “Nhưng nếu họ không nhận quà của ông thì sao?”, Đức Phật hỏi. “Ông sẽ làm gì với món quàđó?”

- “Tôi sẽ mang nó về nhà và chia sẻ với gia đình tôi”người Bà-la-môn trả lời.

- Nay ông đã mang cho tôi một món quà của những lời sỉnhục giận dữ. Tôi không muốn nhận chúng, tôi xin trả lại cho ông. Hãy mang về nhà và chia sẻ với gia đình”.